Chương 27
“…Chuyện xưa có kẻ tiều phu
Áo quần Tần Hán dân cư vẫn dùng
Vũ Lăng sum họp vui cùng
Ruộng vườn chăm chỉ chẳng màng chuyện ai
Nhà im trăng tỏ đêm dài
Xôn xao gà chó ban mai ánh hồng
Chợt nghe khách đến mà mong
Giành nhau thăm hỏi xóm làng quê xa
Sớm mai hoa rụng sân nhà
Chiều hôm ngư phủ vượt qua suối về
Xưa vì lánh nạn rời quê
Gặp chốn tiên chẳng muốn về quê đâu
Ai ngờ người ở núi sâu
Cõi trần xa cách mây sầu giăng che
Cảnh tiên khó thấy khó nghe
Lòng trần chưa dứt muốn về quê hương
Núi sông xa cách đoạn trường…
Về rồi lại muốn tìm đường đi xa
Tưởng rằng không lạc lối qua
Ai ngờ cảnh cũ khác ra lúc nào
Nhớ ngày đã vượt núi cao
Rừng mây cách suối là bao dặm đường
Xuân về đào suối ngát hương
Mịt mùng tiên cảnh, biết phương nào tìm?”(*)
Hoàng đế tu sửa điện Hoằng Huy để phụng dưỡng mẫu thân nên không thể nói nơi ấy là chẳng hoa lệ, nhưng Cao Thái hậu, mỗi khi hồi cung lại khó tránh khỏi phải nổi trận lôi đình. Nguyên nhân không có gì khác, trời không thể có hai mặt trời, người không thể thờ hai chủ, trong Hoàng thành này cũng chỉ có thể có một nữ chủ nhân cao quý nhất mà thôi. Dẫu trên danh nghĩa Cao Thái hậu là thân mẫu của Thiên tử, là Thánh mẫu Hoàng thái hậu được muôn người kính ngưỡng, nhưng trước mặt Chu Thái hậu thì bà ta vĩnh viễn phải ba quỳ chín lạy, phải chấp hành theo quốc lễ của phận thiếp. Không một phút giây nào Cao Thái hậu không bị nhắc nhở rằng bà ta thân phận rẻ mạt, xuất thân thấp hèn, hết thảy những gì bà ta có hôm nay chẳng qua là nhờ ơn Chu Thái hậu ban cho mà thôi.
Cao Thục phi giấu vẻ âm u trong đôi mắt, theo sau xe kiệu của Cao Thái hậu. Đêm qua dứt trận mưa thu, đến sáng sớm mặt đất vẫn còn những vết ẩm ướt loang lổ, tà áo phi phục nàng đang mặc chẳng mấy chốc đã lấm lem vết bẩn.
Sắc Nương cẩn thận quan sát sắc mặt của Cao Thục phi, hạ giọng:
— Không biết Nương nương có muốn nô tỳ lên bẩm báo Thái hậu một tiếng… để nội thị đi chậm lại…
Nói rồi Sắc Nương không khỏi lo lắng chăm chú nhìn sắc mặt có chút tái đi của Cao Thục phi, có lẽ vì khí lạnh đã thấm vào cơ thể.
Cao Thục phi lắc đầu:
— Không cần đâu.
————
Trong cung Hưng Khánh, Chu Thái hậu gieo một quân cờ xuống bàn.
Chưởng sự là người hầu già đã hầu hạ bên cạnh bà nhiều năm vén rèm bước vào, nhìn thấy trên bàn cờ là thế cờ chằng chịt, quân đen quân trắng uốn lượn bện chặt vào nhau như sừng dê, vây dồn thành một án tử cục không lối thoát.
— Kỳ nghệ của nương nương vẫn tinh diệu như xưa.
Chưởng sự đặt chén yến sào mới chưng xuống, lời khen ngợi chân thành mà thâm thúy.
Chu Thái hậu ngẩng đầu lên nhìn người hầu già, nét mặt lộ vẻ mệt mỏi, khẽ giọng hỏi:
— Bên điện Cam Lộ ra sao rồi?
Chưởng sự không còn cười nữa, mặt mày lập tức nghiêm trang:
— Bẩm, Tiết Mỹ nhân đã nhập liệm hôm nay. Bệ hạ cảm niệm công sinh hoàng tự của Mỹ nhân, đặc biệt gia ân truy phong Mỹ nhân làm Chiêu nghi, lại ban ơn cho phụ mẫu và huynh đệ trong nhà nàng. Tiểu công chúa cũng đã được Bệ hạ giao cho Hoàng hậu cùng nuôi dưỡng. Xin nương nương nén niềm thương cảm, chớ vì sự ra đi của Mỹ nhân mà ưu tư quá độ, tổn hại đến thân thể.
Chu Thái hậu cười một tiếng, nhìn thẳng vào đôi mắt người hầu già:
— Vân nương.
Chu Thái hậu gọi tên bà ta.
— Ngươi ở bên cạnh ta, xét ra cũng đã được bốn mươi cái xuân rồi nhỉ?
Chưởng sự cúi đầu:
— Bẩm Thái hậu nương nương, đã được ba mươi chín năm rồi.
Chu Thái hậu lại hỏi:
— Ngươi có thấy lạ không? Vì sao ta không giúp Hoàng hậu, không che chở, cũng không đỡ lời cho Hoàng hậu? Ta cũng không trừng phạt Thục phi, mà chỉ để cho Hoàng hậu đơn thương độc mã còn Thục phi thì tiểu nhân đắc chí?
Chưởng sự vẫn lắc đầu:
— Nương nương có sự suy tính riêng của người, nô tỳ không dám vọng nghị.
Cuối cùng Chu Thái hậu đứng dậy khỏi bàn cờ, bước lên bệ đá, đứng ở trên cao để nhìn xuống bà ta:
— Ta đôi khi cũng không khỏi khổ tâm. Uyển Anh có thực sự là phù hợp để làm một Hoàng hậu hay không?
Chưởng sự bị câu nói này làm cho kinh sợ, vội quỳ rạp xuống đất, vái lạy rồi dập đầu một tiếng vang dội:
— Hoàng hậu nương nương lo việc chính sự không một chút sai sót bao giờ, chu toàn hiếu kính với người trên, nhân từ khoan hậu với kẻ dưới, bao dung thương xót các cung tần thứ nhân! Nô tỳ không hiểu Thái hậu nói lời này là có ý tứ gì?
Chu Thái hậu không nhìn bà ta nữa, mà trầm mặc hồi lâu rồi nhẹ nhàng phủi đi một chút tàn hương dính trên xiêm y mà khi vừa nãy, bà vô ý làm dính phải khi lễ Phật trên bồ đoàn.
Rồi Chưởng sự nghe thấy giọng nói của Chu Thái hậu vang lên, lạnh lùng và uy nghiêm, hệt như pho tượng Quan Âm ngọc trắng ở bên điện thờ:
— Trong hậu cung này, người có thể sống sót đến cuối cùng thường không phải là người lương thiện. Nếu như Uyển Anh vẫn còn chưa thể học được cách làm một Hoàng hậu…
Nói đến đây, bà dừng lại không nói nữa, thở dài một hơi thật dài.
— Không. Nó buộc phải học cách làm một Hoàng hậu.
_________
Tháng mười một ở Kinh Kỳ, những bông tuyết đầu tiên lả lướt bay xuống từ tầng không. Người xưa nói tuyết lành báo hiệu mùa màng bội thu, năm nay tuyết đầu mùa đến sớm như vậy, ắt là điềm lành. Đối với Thiên tử mà nói, ấy lại mang một ý nghĩa đặc biệt khác nữa. Kể từ khi Hán Vũ Đế bãi truất Bách Gia, độc tôn Nho Thuật[1], những lí luận như ‘thiên nhân tam sách’ [2] của Đổng Trọng Thư đã được các đạo học gia lật đi lật lại đến mòn, viết thành biết bao nhiêu câu văn cũ rích. Quả thế, tin tuyết đầu mùa đổ ở Kinh thành vừa truyền vào trong cung thì muôn lời hoa mỹ của các vị Học sĩ Hàn lâm cũng đã được dâng lên ngự án của Thiên tử.
[1] [2]: Khi Hán Vũ Đế hạ chiếu tiến cử kẻ sĩ hiền lương, Đổng Trọng Thư đã đề xuất kiến nghị “thiên nhân tam sách” với Hán Vũ Đế. Ý nghĩa là: trời có ý chí, sự vật trên thế gian tồn tại và biến hoá theo ý trời. Hoàng đế là đại biểu của trời, quyền lực của hoàng đế do trời trao cho, con người phục tùng hoàng đế chính là phục tùng thiên đạo. Để duy trì trật tự phong kiến, Đổng Trọng Thư đặc biệt đề xuất “tam cương ngũ thường”. Dưới thiên đạo, giữa vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em cần phải tuân thủ nghiêm nhặt lễ tiết thượng hạ tôn ti, tuyệt đối không được vi phạm lễ tiết này. Học thuyết Nho gia được Đổng Trọng Thư cải tạo hoàn toàn thống trị cả lĩnh vực văn hoá tư tưởng trong xã hội phong kiến, chính là điều mà trong lịch sử gọi là “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”.
Nhưng tất cả điều này, đối với Chân Nhược Y đang ở điện Lệ Chính mà nói thì rõ ràng là chẳng có liên quan gì. Nàng không phải là Tiết Hoàng hậu, không nghiền ngẫm thi thư, cũng không có nhiều tâm tư ưu quốc ưu dân; cũng chẳng phải đại thần khanh tướng để mà trăn trở việc tuyết rơi lớn như vậy thì có nên lập thêm vài trạm than sưởi quanh Kinh Kỳ cho lê dân bách tính được ấm hay không. Hai tháng trước, Tiết Mỹ nhân vì sinh khó mà đột ngột qua đời, Thiên tử đã giao Công chúa Hòa An cho Chân Nhược Y chăm sóc dưỡng, và cũng từ ấy Chân Nhược Y được ngấm ngầm chấp thuận việc ở lại điện Lệ Chính lâu dài.
Lý do đã có sẵn – nàng vừa trẻ tuổi, lại chưa từng sinh nở, không có kinh nghiệm chăm sóc con cái. Lại có thể nói trong cung có đủ vú nuôi và thừa nô tỳ, không thiếu người chăm sóc trẻ con, nhưng dù sao Tiết Mỹ nhân cũng là tộc muội của Tiết Hoàng hậu. Hoàng hậu có lòng muốn coi sóc chăm nom hậu duệ duy nhất mà cô em họ của mình đã để lại, và đồng thời dường như còn muốn bảo vệ che chở luôn cho cả dưỡng mẫu của cháu gái mình. Mặc dù điện Lệ Chính là nơi ở của Trung cung, xưa nay không có lý lẽ gì mà lại cho chứa chấp phi tần, nhưng vì Tiết Hoàng hậu đã tự nguyện chấp thuận, Chân Quý phi thì cũng vui vẻ vì được ở điện Lệ Chính bầu bạn với Hoàng hậu luôn; còn những người khác trong hậu cung thì lại càng chỉ mong Chân Nhược Y đừng có trở về chiêu Dương điện, mong nàng cứ thế mà chìm nghỉm rồi bị lãng quên ở Lệ Chính điện luôn hẳn, chớ có xuất đầu lộ diện rồi tranh sủng với họ nữa.
Vậy là mọi chuyện cứ thế mà được ngầm chấp nhận, có lối mòn của riền nó.
Chân Nhược Y cầm kéo trên tay, cẩn thận cắt đi những sợi chỉ thừa ở đường may trên chiếc yếm nhỏ.
Thái Tang bước vào phòng, đóng cửa sổ lại. Nhìn thấy mười màu chỉ may đặt trên bàn, Thái Tang không khỏi thở dài một tiếng não nề ở trong lòng.
Bảo rằng thói ở đời người thường ai mà chẳng ham hư vinh phù phiếm và phù hoa quyền quý quý, mà để có được những thứ ấy thì phải trông chờ vào ân sủng. Chân Quý phi đây thì một mình một thói, chẳng giống người thường, lại đến nương náu ở tận điện Lệ Chính này để tránh ân sủng. Nếu không phải Thái Tang đã hầu hạ Chân Nhược Y tận vài năm, biết rõ nàng tính cách phóng khoáng không ưa uỷ mị, lại lý trí sắc sảo không hề có vẻ gì của một thiếu nữ hoài xuân, bằng không thì e rằng cô ta đã phải chắc mẩm là chủ tử mình đã có một người khác trong lòng.
Dù thế nào đi nữa, Thái Tang vẫn không nhịn được, phải nhắc nhở:
— Ý tứ phu nhân gửi cho nương nương, bấy lâu nay nương nương chỉ cứ gác lại đấy mà chẳng quan tâm gì, e rằng để lâu ngày phu nhân sẽ khó tránh khỏi việc trong lòng không vui…
Chân Nhược Y liếc nhìn cô ta một cái, mỉm cười duyên dáng:
— Không vui thì sao? Bản cung lấy đâu ra cái bản lĩnh thần thông quảng đại để mà tìm lang quân nhà họ Tiết, công tử nhà họ Chu cho mấy người em gái ngoan hiền nết na ở nhà? Chẳng qua là do đệ đệ của ta đang còn nhỏ tuổi, bằng không ngươi cứ thử xem di nương có dám mạnh miệng bảo Công chúa gả cho nó hay không?
Trước kia Thái Tang từng nghe người ta kể truyền thuyết Nữ Oa nặn người từ bùn đất, sau khi gặp Chân Nhược Y thì lại không khỏi tự hỏi nếu người với người đều là từ bùn đất mà nặn ra cả, thì sao lại có sự khác biệt đến vậy? Ví như khoảnh khắc này, Chân Nhược Y chỉ cần cười với một cái mà đã khiến cho Thái Tang nghĩ ngay đến bốn chữ nghiêng nước nghiêng thành.
Thái Tang lẩm bẩm, nhỏ giọng:
— Nếu không phải là nương nương cứ ngày này qua ngày khác tránh né thánh sủng thì bản lĩnh tìm lang quân nhà họ Tiết, công tử nhà họ Chu… cũng chưa chắc là không thể có…
Chân Nhược Y nhìn Thái Tang, khóe môi vẫn giữ nụ cười nhưng sự phật ý trong đôi mắt thì không thể che giấu được.
Vị chủ tử này xưa nay vốn không thích nghe lời khuyên, Thái Tang cũng chẳng biết làm sao, chi bằng cứ để nàng làm loạn đi vậy.
Thái Tang thở dài và bỏ cuộc, nói với Chân Nhược Y:
— Với cả Công chúa đã dậy rồi, đang khóc nháo. Vú nuôi có dỗ thế nào cũng không nín khóc, hay nương nương đến xem thử đi.
Không biết có phải ngay đến cả trẻ sơ sinh cũng hiểu được đạo lý “ai cũng yêu cái đẹp” hay không mà Công chúa Hòa An mới hai tháng tuổi, thế mà từ khi mở mắt ra đến giờ, chỉ có nhìn thấy Tiết Uyển Anh và Chân Nhược Y là không khóc không quấy. Bấy giờ Chân Nhược Y quỳ bên nôi, lắc cái trống bỏi một hồi lâu, mãi mới dỗ được tiểu công chúa ngủ trở lại. Dỗ được đứa trẻ rồi nàng mới đứng dậy, nhưng đôi chân bị tê rần, vừa mới đứng lên thì đã hơi khuỵu xuống, giẫm lên tà váy đuôi én, thiếu chút nữa là ngã nhào.
May mắn là không ngã, bởi vì có một vòng tay mềm mại đã kịp thời đưa ngay ra, đỡ lấy nàng.
Chân Nhược Y bị giật mình, ngẩng đầu lên, đối diện với đôi mắt long lanh như làn thu thuỷ của Tiết Uyển Anh.
Có lẽ việc con người ta yêu mến người đẹp cũng giống như yêu thích hoa xuân, trăng thu và sương trắng, lau sậy. Đó là một lẽ tự nhiên vậy.
— Sao nương không ở trong điện mà nghỉ ngơi?
Sợ làm công chúa tỉnh giấc lần nữa, Chân Nhược Y hơi áp sát vào với Tiết Uyển Anh, cố ý trầm giọng xuống. Tiết Uyển Anh cũng không né tránh, đưa tay sửa lại vạt cổ áo cho Chân Nhược Y, vừa lần vạt áo trước ngực nàng vừa nói nói:
— Ta có khi nào ngủ trưa đâu?
Chân Nhược Y ngẫm một chút, bật cười.
Đúng là Tiết Uyển Anh xưa nay ngủ ít, quãng thời gian trước khi Công chúa nhỏ đến Lệ Chính điện, hai người thường dựa theo những bút ký truyền kỳ trong kho sách của Tiết Uyển Anh mà bày biện các loại món ăn và trò tiêu khiển, để cho hết quãng thời gian lúc buổi trưa.
Hòa An cọ quậy trong giường nôi, hai má bụ bẫm phồng lên. Chân Nhược Y tinh nghịch, ngón tay chọc chọc nhè nhẹ vào má phúng phính của công chúa.
Tiết Uyển Anh không nhịn được cười, bật cười xong lại trừng mắt quở nàng:
— Làm gì có ai làm mẹ mà lại hành xử như ngươi chứ?
Kỳ thực, khái niệm nuôi dạy chăm sóc con cái của Chân Nhược Y rất mơ hồ. Việc ăn uống hàng ngày của công chúa đã có vú nuôi lo, chỗ ngủ nghỉ và y phục thường ngày thì lại do một tay Tiết Uyển Anh lo liệu. Trên danh nghĩa Chân Nhược Y là dưỡng mẫu của Hòa An, nhưng trên thực tế thì hàng ngày chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là chơi đùa nghịch ngợm cùng công chúa. Nàng còn trẻ quá, chẳng mấy yêu thích con cái, không thể có cảm giác làm mẹ hay biết thế nào là tình mẫu tử thiêng liêng được. Hôm đó nàng cắn răng nhận trọng trách, sau này ngẫm lại, cũng có lúc hối hận.
Nhưng việc có thể ở lại điện Lệ Chính lâu dài lại khiến nàng cảm thấy cũng không có gì đáng hối hận lắm, và mọi chuyện cũng không đến nỗi khó khăn gì.
Hôm ấy, Tiết Hoàng hậu kể cho nàng nghe về Đào Hoa Nguyên Ký của Đào Uyên Minh[3]. Trong lúc Tiết Uyển Anh cúi đầu chăm chú mài mực, Chân Nhược Y thất thần, chợt nghĩ, điện Lệ Chính này há chẳng phải cũng là chính là Đào Nguyên của riêng mình đấy hay sao?
Nhưng, cuối bài ký, người ngư phủ đã rời khỏi Đào Nguyên và không bao giờ tìm được đường trở về nữa. Chân Nhược Y không thích cái kết này.
Nàng dựa vào thành nôi, nghiêng nghiêng đầu và chăm chú nhìn Tiết Uyển Anh. Để không làm công chúa bị đau khi va phải, thành nôi được bọc một lớp vải nhung mỏng. Tiết Uyển Anh mài mực xong, bỗng nhớ tới rồi lấy ra một cái túi phúc nhỏ, đi tới bên giường rồi khẽ khàng buộc lên cổ tay của đứa bé.
Chân Nhược Y lập tức chìa tay ra đòi:
— Của ta đâu?
Tiết Uyển Anh liếc mắt nhìn nàng một cái, môi hơi mím như cố nén cười:
— Cao lớn như thế rồi mà vẫn còn cứ như là trẻ con vậy.
Chân Nhược Y không chịu thua, cứ nài liên tục, lại còn gọi nàng:
— A tỷ! A tỷ, a tỷ!
Cuối cùng Tiết Uyển Anh bị làm cho thấy phiền không chịu nổi, cũng hết cách, ngón trỏ chọc chọc vào giữa trán Chân Nhược Y rồi dứt khoát nắm lấy tay nàng, kéo nàng đi ra khỏi gian phòng ngủ của công chúa.
— Được thôi, dù sao cũng đã chuẩn bị cả rồi. Nào dám quên ngươi chứ?
Băng tuyết kết tụ ở trên mái hiên. Hai người vừa mới đi qua thì thật là không may, có một tảng băng trong bám trên kẽ ngói lưu ly bất thình lình trượt rơi xuống, trúng ngay vào ống tay áo của Chân Nhược Y.
Nàng bực mình phẩy tay áo, nói:
— Cung nhân điện Lệ Chính không dọn băng tuyết à?
Thấy khoé môi Tiết Uyển Anh cong cong lên như đang cười thầm, nàng lại không khỏi dấy lên ác tâm muốn trêu chọc một phen, vậy là giữ cái ống tay áo dính băng lạnh tê ấy rồi làm bộ đưa về phía cổ Tiết Uyển Anh, làm cho Tiết Uyển Anh phải co vai lại để tránh né, bật cười thành tiếng.
Đồ Bích theo hầu đằng sau, mặt mày đã tối sầm.
Tiết Uyển Anh giữ lấy cái tay làm càn của Chân Nhược Y rồi kéo nàng bước xuống thềm, vừa khéo lại gặp ngay công chúa Hàm Ninh đang bước vào từ cổng cung.
Hàm Ninh không đi một mình, phía sau cô bé là một thiếu nữ khoảng chừng mười hai, mười ba tuổi. Thiếu nữ mặc một chiếc áo lông cáo trắng như tuyết, dung mạo xinh xắn, ngũ quan thanh tú, thấy Tiết Uyển Anh và Chân Nhược Y thì cung kính hành lễ ngay:
— Nương nương vạn phúc kim an.
Thấy giọng nói có vẻ như đang bị nghẹt mũi, mà lời vừa dứt thì thiếu nữ đã hắt hơi một tiếng rõ to.
Hàm Ninh tháo chiếc mũ nỉ của mình ra ngay, lại tự tay đội lên đầu thiếu nữ, quay sang dặn dò cung nhân bên cạnh:
— Đi nấu một chén canh gừng, mang đến đây.
Nói xong, hành lễ với Tiết Hoàng hậu, rồi liền cầm tay thiếu nữ, kéo nhau chạy về phía điện ấm của mình.
Chân Nhược Y quay đầu nhìn theo bóng dáng hai cô bé đang nắm tay nhau chạy vào trong sân, vừa định mở miệng hỏi Tiết Uyển Anh xem thiếu nữ đó là ai thì đã nghe Tiết Uyển Anh lên tiếng:
— Đó là ái nữ của Thị trung Triệu Ung đại nhân, tên là Đình Khương.
_________
[3] Đào Tiềm, hiệu Uyên Minh, một trong những nhà thơ lớn thời nhà Tấn. Bài ký này sáng tác vào năm Vĩnh Sơ thứ 2 thời Tây Tấn, kể về một người nông dân lánh đời lạc vào một hang động hẹp, bước qua thì là cõi tiên, sau khi trở về ông báo quan huyện nhưng kể từ đó, ngoài ông ra thì không còn ai tìm được Đào Hoa Nguyên nữa. Văn chương miêu tả một xã hội không có chiến loạn, không có áp bách, tự cấp tự túc, mỗi người tự đắc, đối lập hẳn với tình hình xã hội lúc bấy giờ của nhà Tấn. Ý tưởng của tác giả muốn vẽ nên một xã hội lý tưởng, cũng thể hiện sự phủ định mạnh mẽ của Đào Uyên Minh đối với hiện thực đen tối và phản ảnh phần nào nguyện vọng của nhân dân đương thời.
(*) Đào Nguyên Hành – Vương Duy (Đường)
—— Hết Hồi I ——
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!
Viết bình luận