Chương 41
Quốc tang đã qua đi, cho tới bây giờ Chu Đường vẫn ăn vận vô cùng trang nhã giản dị, chỉ mặc một chiếc váy lụa mỏng màu trắng ngà, tà váy chấm đất. Trang phục đơn sắc như vậy có thể nói là không thể nào hình dung tưởng tượng trong những năm tháng thuở thiếu nữ của Chu Đường.
Khi ấy, Chu Thái hậu còn tại vị, nhà họ Chu vẫn là môn đệ giàu có cự phách và hiển hách nhất kinh thành; và Chu Đường, từ sau khi Tiết Uyển Anh nhập cung, thì lại càng trở nên nổi bật trong đám con cháu Thế gia, trở thành hình mẫu tiêu chuẩn cho quý nữ thế hệ non trẻ ở Kinh Kỳ. Kiểu váy mới ra ở chợ thành Đông, cái áo đắt đỏ nhất chợ thành Tây, gấm vóc thượng hạng chuyển tới từ Tứ Xuyên, cùng với trang sức nào là vàng bạc châu báu, phỉ thuý mã não, kỳ trân tiến cống,… nhờ vào sự yêu chiều đến mức thiên vị của Chu Thái hậu, món nào món nấy đều luôn xuất hiện trên bàn trang điểm của Chu Đường ngay lập tức.
Lục Hiền phi cũng ưa chuộng lộng lẫy xa hoa, nhưng đam mê ấy phần nhiều là để hòng lấp đầy sự trống rỗng trong lòng mà thôi. Bấy giờ, khi than phiền với Tiết Uyển Anh về sự thiên vị rõ ràng của Chu Thái hậu dành cho Chu Đường, nàng cũng khó tránh khỏi nói những lời chua chát:
— Dù sao cũng là cháu gái ruột, sinh ra đã cầm vàng bạc trên tay, từ nhỏ đã lớn lên trong nhung lụa, cái quý khí ấy đúng là chẳng ai mà bằng được!
Mấy năm trước, kể từ vụ án đánh ch3t cung nhân làm Thiên tử nổi giận rồi lại bị Chu Thái hậu nghiêm khắc quở trách một phen, Lục Hiền phi cũng dần dần im ắng. Gần đây dường như vị chủ tử của điện Thanh Lương này say mê Phật pháp, sớm chiều cửa đóng then cài ở trong điện của mình chép kinh Phật và nuôi dưỡng hai vị Hoàng tử, không còn mảy may ngó ngàng gì đến cung phi người đến kẻ đi tấp nập nữa.
Còn cô cháu gái ruột của Chu Thái hậu như Chu Đường đây dường như cũng tự một con ve sầu thoát xác, thay đổi hoàn toàn. Nàng rũ bỏ son phấn, chẳng ham ngọc ngà, giờ bỗng lại mang cái dáng vẻ thông đạt dịu dàng.
Nhưng Tiết Uyển Anh còn nhớ rõ ràng không sai chút nào và cũng không thể quên được, rằng cô em họ này của mình từ nhỏ đến lớn đã cá tính vô cùng, ước nguyện lớn nhất đời là công thành danh toại, vẻ vang thiên hạ như ông nội Chu Thiếu; còn điều mà cô em này ghét nhất chính là những lời lẽ răn dạy về đức hạnh phụ nữ, cùng với cái nhục kế lấy sắc hầu người.
Chu Đường nhìn thấy Tiết Uyển Anh, đôi mắt hơi nheo mắt lại, sau đó cười cười đi tới gần vài bước, rất tự nhiên khoác tay Tiết Uyển Anh:
— Muộn thế này rồi mà a tỷ còn đi đâu lâu như vậy? Để cho ta phải chờ mãi…
Tiết Uyển Anh cũng rất tự nhiên rút tay ra, nhìn nàng và bình thản giải thích:
— Vừa nãy thấy hơi choáng váng nên vào tẩm điện chợp mắt một lát, mấy người hầu thấy ta ngủ rồi nên không vào thông báo.
Chu Đường ắt biết lời này không thể là sự thật. Chỉ là, chuyện lớn như việc lần trước Tiết Uyển Anh đưa con gái ra khỏi cung mà còn có thể che giấu được, thì điện Lệ Chính này chính là một bức tường thành kiên cố, còn bản thân Tiết Uyển Anh thì như một chủ tướng thành công thu phục lòng binh. Cũng phải, nàng ôn hoà nhân ái, chu cấp rộng rãi, người của điện Lệ Chính ai nấy tin yêu vị chủ tử này.
Mà điều này lại khiến Chu Đường đột nhiên nhớ lại những suy nghĩ nảy lên trong đầu trong quãng thời gian hai năm qua nàng dành ra để tự tay sắp xếp, biên soạn các bản viết tay, ghi chép, thư từ mà ông nội Chu Thiếu của nàng để lại.
Ông nói: Người ở vị trí càng cao thì lại càng phải phụ thuộc vào những người ở vị trí dưới thấp.
Khoan hòa có thể là thiên tính bẩm sinh, khoan hoà cũng có thể là một thái độ. Không ai thích một vị chủ tử cao cao tại thượng, độc ác hách dịch. Ngay đến cả người thấp hèn nhất trần thì vẫn có danh dự và tự tôn của riêng mình.
Nhưng những điều này cũng chỉ lướt qua trong đầu Chu Đường trong một thoáng rồi biến mất, giây tiếp theo nàng bỗng vuốt ve bụng mình, nói với Tiết Uyển Anh với một giọng điệu bình thản:
— Có một việc, nghĩ đi nghĩ lại, ta thấy vẫn là nên nói với a tỷ một tiếng thì tốt hơn.
Tiết Uyển Anh nghe xong, mỉm cười, chẳng đợi Chu Đường mở miệng nói thêm lời nào nữa thì đã đặt tay mình lên bụng của nàng, dịu dàng hỏi:
— Mấy tháng rồi?
Chu Đường hơi sững trước thái độ ấy, nhưng rất nhanh sau đó lại nở nụ cười:
— Được hai tháng rồi.
Tiết Uyển Anh nhìn nàng một cái:
— Ngay lúc Di mẫu đang bệnh nặng.
Chu Đường mím môi, không nói gì, nhưng trong mắt lại lập loè một tia khiêu khích.
— Chắc hẳn Bệ hạ cũng không muốn triều thần biết được việc này.
Tiết Uyển Anh im lặng một lát, quay người bước về phía bệ thềm. Chu Đường nhìn bóng lưng nàng, cười khẽ:
— Chẳng sao cả, cứ nói bớt đi vài tháng tuổi của đứa bé này thì cũng có vấn đề gì đâu?
Tiết Uyển Anh quay người lại, nhìn sâu vào khuôn mặt nàng một cái, nói:
— A Đường, làm đến như vậy, thật sự là không đáng.
Chu Đường cũng không cười nữa, gương mặt lạnh đi và nghiêm túc nhìn Tiết Uyển Anh, nói từng chữ rõ ràng:
— Ta cảm thấy đáng là được rồi.
Tiết Uyển Anh không nói gì thêm.
Việc ăn nằm với em vợ trong thời gian đích mẫu bệnh nặng và lại còn đang chịu tang, thậm chí là để có Hoàng tự ngay vào lúc ấy, quả thực là một việc vô cùng trái đạo và mất thể diện. Nếu chuyện này bị đưa ra giữa triều đình, để cho quần thần biết được, chỉ sợ tấu chương can gián sẽ ngập cả ngự án của Thiên tử mất thôi. Nhưng ấy thế mà Thiên tử lại không hề bắt Chu Đường phá bỏ thai nhi trong bụng, cũng không hề ruồng bỏ, mà lại chọn cách âm thầm đón Chu Đường vào cung.
Nhưng Tiết Uyển Anh không cho rằng Thiên tử làm vậy là vì yêu thương Chu Đường hay trân trọng nhà họ Chu. Cũng như tất thảy những việc khác hắn làm, hắn chỉ đang bù đắp cho chính mình và khoả lấp lỗ hổng cho thân phận của chính mình. Xuất thân thấp kém, từ khi lọt lòng đã không được Nhân Tông đoái hoài, không được anh em coi trọng, bấy lâu Thiên tử khát khao chứng minh bản thân danh giá hơn bất kỳ ai khác trên thế gian này. Bóng ma tâm lý ấy xui khiến hắn làm ra những chuyện nực cười, ví dụ như vừa đàn áp thế gia và cũng vừa vội vàng nạp quý nữ thế gia vào cung làm phi.
Tiết Uyển Anh lại một lần nữa ngắm nhìn và đánh giá cô gái trẻ trước mặt mình. Rõ ràng, Chu Đường đã hiểu được Thiên tử và cũng đã lợi dụng chính điểm yếu này.
Buổi đêm mùa hè, gió mạnh, thổi cho một cánh cửa sổ quên cài lung lay và hở ra một khe cửa nhỏ. Ánh trăng sáng trắng một vẻ lạnh lùng rọi qua khe hở, rơi vào phòng, hòa quyện với ánh nến vàng chập chờn lay động, tạo ra một thứ ánh bạc ma quái nuốt chửng một nửa trang sách mà vẫn chẳng lấn át được màn đêm.
__________
Triệu Đình Khương bước vào, thấy Hàm Ninh vẫn cắm cúi đọc sách thì liền đi thẳng tới giật phăng cuốn sách đi, giận nên mắng:
— Đọc! Đọc nữa! Đọc mãi! Còn đọc tiếp là sẽ mù mắt đó! Nếu để Chu phu nhân biết muội thức đêm đọc sách tới khuya thế này thì nhất định sẽ phạt muội cho mà xem!
Hàm Ninh cũng không tức giận gì vì bị mắng, hiền hoà nói:
— A tỷ trả sách lại cho ta đi, để ta còn gấp góc trang lại, ngày mai còn biết đã đọc đến đâu rồi.
Nghe thế Triệu Đình Khương mới trả sách lại cho nàng. Ánh sáng trong phòng lờ mờ, nàng nhìn một lúc lâu mới nhận ra chữ trên bìa sách là Lục Thao.
Cũng không khỏi hơi ngạc nhiên.
Trước đây Đình Khương cũng thường xuyên cùng Hàm Ninh đọc sách, làm thơ; thấy Hàm Ninh uyên bác hơn nhiều so với những tiểu thư khuê các bình thường, và cũng chưa bao giờ chê bai mình là mọt sách như mấy cô chị em họ ở nhà. Nhưng phần lớn thời gian trước kia, sách mà hai người đọc vẫn là những sách văn thơ nhàn tản. Phụ thân nàng, Triệu Ung, nổi danh với tài học, mẫu thân nàng vốn cũng có tiếng thơm, mà nàng lại là thiên kim tiểu thư độc nhất của cha mẹ. Nhưng ngay cả ở trong một gia đình như vậy thì việc cha mẹ dạy nàng đọc sách viết chữ, cũng chỉ hy vọng nàng sẽ có được thú tiêu khiển cao sang và tao nhã hơn người mà thôi.
Lúc đầu, Hàm Ninh muốn Triệu Đình Khương đi theo và ở bên cạnh mình là vì mong cứu người tỷ muội kim lan này thoát được cảnh khó và khổ ở trong cung. Cuối cùng đó lại là quyết định mà nàng đưa ra để tự cứu chính mình. Kể từ khi đến Tịnh Châu, Chu phu nhân vẫm đau buồn khôn xiết vì cái tang của chị cả, tâm tư sức lực đều kiệt quệ, bình thường hiếm hoi lắm mới có thể quan tâm hàn huyên với Hàm Ninh. Để cho mẫu thân ở trong cung được yên lòng, Hàm Ninh lại luôn chỉ báo tin vui chứ không báo tin buồn. Thành thử ra, suốt mấy tháng qua, tâm sự chất chứa, bao nhiêu buồn sầu, tất thảy cũng đều chỉ có thể kể với Triệu Đình Khương.
Đôi khi, nghĩ đến Thiên tử, Hàm Ninh vẫn cảm thấy lòng đầy oán giận và cay đắng.
Trên đời này, vốn dĩ đàn ông dù có muốn lắm thì cũng không thể nào thực sự cảm thông cho phụ nữ được. Họ vừa sinh ra trên đời đã được ban cho quá nhiều thứ, đến mức giả như có ai trong số họ chịu nghĩ cho sự thiệt thòi của người mẹ, người vợ, hay người con gái mình, dù chỉ một phần nhỏ so với những thiệt thòi ấy thôi, thì đã được ca ngợi là bậc đại trượng phu nhân nghĩa hiếm có. Ấy thế mà khi vừa sinh ra phụ nữ đã mặc nhiên được dạy rằng nên hy sinh tất cả của mình.
Có quá nhiều quy tắc được đặt ra cho đàn bà. Mà lại chẳng có quy tắc nào do chính đàn bà đặt ra.
Cổ chí kim, nào là – con gái là tài sản của cha, sang thì để kết mối liên minh, hèn thì để tặng cho láng giềng. Nào là – vợ là nô bộc của chồng, sinh con đẻ cái, quản xuyến việc nhà, lại còn chọn hầu nạp thiếp cho chồng. Nào là – tưởng như làm mẹ thì có quyền hành tuyệt đối đối với con trai, nhưng rốt cuộc là trên đời vô số bà mẹ thủ tiết nuôi con trai khôn lớn thành người mà hiếm khi nào thấy người cha goá vợ ở vậy nuôi con.
Nếu nhiều bất cập cho đàn bà đến vậy, thế giới này đặt ra nhiều luật lệ như thế đích thị là vì lợi ích của đàn ông.
Hàm Ninh không muốn oán hận phụ thân mình, không có đứa con nào trên đời này lại muốn thừa nhận rằng cha mình không yêu thương mình. Nhưng nửa đêm tỉnh giấc, nàng sẽ nhớ lại cảnh phụ thân ngang tàng bất chấp sự phản đối của mẫu thân, kiên quyết gả mình cho Cao Thông.
Triệu Đình Khương dường như nhận ra sự u sầu của nàng bỗng dưng trào lên, bèn bước lại gần mấy bước, dùng lòng bàn tay ấm áp của mình để nhẹ nhàng, nhẹ nhàng xoa xoa trán Hàm Ninh:
— Đứa ngốc này…
Hàm Ninh cười:
— A tỷ cũng chỉ lớn hơn ta một hai tuổi, lấy đâu ra cái giọng điệu người lớn như vậy mà nói chuyện với ta?
Triệu Đình Khương cười hiền hòa:
— Cho dù chỉ lớn hơn một tuổi thì cũng đủ để làm a tỷ của muội rồi nhé!
Hàm Ninh chợt nhớ ra nay Triệu Đình Khương đã tròn mười bốn tuổi, nếu không phải Triệu Ung đột ngột xảy ra chuyện như vậy thì Đình Khương cũng đã phải chuẩn bị được gả đi rồi.
Nghĩ đến đây nàng lại cảm thấy hơi buồn bã. Dù sao thì cũng chính là phụ thân nàng đứng sau và gây ra tất cả những chuyện này.
Hàm Ninh nắm lấy tay Triệu Đình Khương, tựa đầu vào người nàng:
— Đình Khương tỷ tỷ, người bị nhà họ Trịnh hủy hôn như thế, người có buồn không?
Triệu Đình Khương không trả lời mà hỏi ngược lại:
— Chu tiểu lang quân đã phụ muội, muội có buồn không?
Hàm Ninh im lặng một thoáng, ngẩng đầu nhìn nàng rồi lắc đầu:
— Không hề buồn. Việc gì phải đau lòng vì chuyện này?
Mắt nàng rất sáng, như lóe lên một ngọn lửa yếu ớt:
— Ta mong có một ngày kia con gái trong thiên hạ cũng có thể giống như con trai, có thể đường hoàng vào trường để học, có thể bước lên triều đình. Đến lúc đó, có cưới gả hay không, hay gả cho người nào, thì còn có gì quan trọng?
Cũng không biết Đình Khương có thật sự thấu hiểu và nghe lọt tai lời Hàm Ninh nói hay không, chỉ cười nói:
— Được. Đến lúc đó ta cũng sẽ đi thi khoa cử, sẽ cùng làm quan với Công chúa. Khi ấy Công chúa làm Trung Thư lệnh, ta sẽ làm Gián Nghị đại phu, chuyên môn của ta là mỗi ngày đều bác bỏ tấu chương của Công chúa.
Hàm Ninh vốn đang mang tâm trạng buồn bã, gần đây lại đa sầu đa cảm trước những nỗi bất công ở đời, giờ đây nghe lời ấy của Đình Khương mà bỗng quên cả buồn, bật cười thành tiếng.
Hai người lại tán gẫu đủ chuyện trên trời dưới đất thêm một lúc, như thể lại trở về những ngày vô ưu vô lo khi họ tám, chín tuổi.
Lúc Hàm Ninh mới quen biết Triệu Đình Khương, nàng vẫn còn là ái nữ của Thiên tử, do Chính cung sinh ra, tuy xưa nay tính tình hiền hòa không làm ra những việc sai trái phô trương uy thế hay hãm hại người ta, nhưng các vương gia, huyện chủ, cùng với các quý nữ thế gia ai nấy thấy nàng tức thì đều chỉ biết vâng vâng dạ dạ. Nhưng Triệu Đình Khương thì lại khác, tuy trên danh nghĩa phụ thân nàng là một trong các Tể chấp, nhưng xét sâu xa ra Triệu Ung xuất thân hàn môn, tiền triều thì lại đầy rẫy con cháu thế gia vọng tộc. Triệu Ung khó tránh khỏi việc bị đồng liêu xa lánh, ái nữ cũng khó tránh bị bọn tiểu thư nhà quyền quý cô lập.
Nhưng Đình Khương lại được lòng Công chúa Hàm Ninh.
Hàm Ninh đã chán ngấy những quý nữ, tiểu thư, hễ thấy mặt nàng là lại kéo đến vây quanh như oanh như yến, liên miệng thảo luận về kiểu xiêm y phục sức mới. Hàm Ninh chỉ thấy, bàn luận thi thư sách vở với Triệu Đình Khương thú vị và vui vẻ hơn nhiều.
Vú nuôi của Hàm Ninh không đi theo nàng đến Tịnh Châu, nay bà ở lại Trường An; Chu phu nhân thì cũng đã có tuổi, thường ngủ sớm. Nay Hàm Ninh không bị ai quản thúc, sinh hoạt cũng thoải mái hơn nhiều so với khi ở kinh đô, đêm đêm lôi kéo Triệu Đình Khương, đòi ngủ cùng giường.
Triệu Đình Khương lườm nàng một cái:
— Chỉ sợ ngủ cùng mà lại chẳng ngủ, cứ là tám chuyện đến tận canh tư thôi!
Nhưng cuối cùng vẫn không từ chối.
Nàng hiểu được nỗi buồn trong lòng Hàm Ninh.
—————
Khi Họa Câu truyền lời của Phương Ngọc cho Tiết Uyển Anh, Tiết Uyển Anh đang cúi đầu đọc kỹ bức thư của con gái.
Cả đời của Tiết Uyển Anh chưa bao giờ đến Tịnh Châu, nhưng mẫu thân và di mẫu của nàng thì đều đã sống ở Tịnh Châu một khoảng thời gian khá dài. Cụ ngoại của Tiết Uyển Anh là Gia Lăng Quận chúa, thế nhân thường gọi là Gia Lăng phu nhân, sau khi chồng mất thì ẩn cư tại Tịnh Châu. Năm đó Gia Lăng phu nhân bệnh nặng, Chu Thiếu bèn để hai cô con gái ở lại Tịnh Châu thay ông giữ tròn đạo hiếu, mãi cho đến khi Gia Lăng phu nhân qua đời.
Vì thế cho nên dẫu cho chưa về đất Tổ, nhưng Tiết Uyển Anh không hề xa lạ gì với phong cảnh Tịnh Châu. Trong những lời kể đi kể lại không biết mệt suốt bao năm của Chu phu nhân và Chu Thái hậu, nàng còn biết ở hậu viện của cái nhà cũ họ Chu có một cây đào lạ kết quả vào mùa đông – người trong họ ở quê thường gọi là đào tiên; lại biết ở bậc thềm thứ bảy ở tiền viện có một góc bị sứt – ấy là do lúc Chu phu nhân, chính là mẹ nàng, đã nghịch ngợm cầm kiếm đục ra năm bà sáu, bảy tuổi.
Bây giờ thì đến lượt con gái nàng lại kể lại những điều này với nàng ở trong thư.
Tiết Uyển Anh thở dài một hơi thật dài, liếc nhìn Hòa An bé bỏng đang ngủ say bên cạnh nàng, thỉnh thoảng còn chép miệng.
Đồ Bích bước ra từ sau rèm lụa, trao đổi một ánh mắt với Họa Câu. Vừa nãy, khi Chu Đường đến điện Lệ Chính, Đồ Bích cũng hầu hạ ở một góc điện, những lời nói của Chu Đường, cô ta cũng đã nghe thấy cả.
Tin Chu Đường có thai không thể không khiến cho Đồ Bích thật lòng lo lắng.
Trong số tất cả cung nhân ở điện Lệ Chính, Đồ Bích là người theo Tiết Uyển Anh lâu nhất. Từ khi Tiết Uyển Anh còn cặm cụi đọc sách, dùi mài kinh sử, Đồ Bích đã theo bên cạnh nàng rồi. Bao nhiêu năm nay ở bên cũng nghe lỏm được một bồ chữ nghĩa sách vở, nếu phải chọn một câu khiến Đồ Bích thấy tâm đắc vô cùng thì không câu nào hơn câu: Thuật đế vương cốt ở sự cân bằng.
Thiên tử các đời đều ưa dùng cái thuật cân bằng này, hôm nay lấy gió Đông áp gió Tây, ngày mai phải lấy gió Tây áp gió Đông. Gia đình Hoàng gia, điều kiêng kỵ nhất chính là ngoại thần lấn chủ; mà điều tốt đẹp nhất thì không gì khác ngoài việc các thế lực tự cắn xé lẫn nhau. Cốt yếu làm sau, đến sau cùng tất cả đều chỉ có thể dựa dẫm vào Thiên tử, tất cả đều phải làm chó săn.
Đồ Bích mà đã hiểu đạo lý này thì những người như Tiết Diễm, Tiết Lâm Chi, hẳn là đã hiểu thấu từ lâu. Chỉ là, lòng tham không đáy, đứng trước quyền lực thì ai cũng đều nghĩ mình sẽ phá giải được lời nguyền.
Chỉ là hiện tại nhà họ Tiết đã là một mũi nhọn nổi trội, là một cành thế tộc độc lập vẫn đứng vững và trên đà trỗi dậy. Để âm thầm đàn áp nhà họ Tiết, cũng không biết Thiên tử sẽ làm gì trước tiền triều, và sau hậu đình thì sẽ còn nâng đỡ Chu Đường đến mức nào.
—— Còn tiếp ——
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!
Viết bình luận